Lượt xem: 0 Tác giả: Site Editor Thời gian xuất bản: 2024-03-08 Nguồn gốc: Địa điểm

Titanium dioxide được gọi là sắc tố trắng. Nó có các đặc tính của chỉ số khúc xạ cao, khả năng sắc nét mạnh, khả năng che giấu lớn, độ phân tán tốt, độ trắng cao và không độc hại. Nó được sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp sơn, nhựa, mực, sản xuất giấy, sợi hóa học, gốm sứ, v.v. Trong số đó, lượng lớp phủ lớn nhất được sử dụng, chiếm khoảng 57% tổng lượng titan dioxide.
Lớp phủ làm từ titan dioxide có màu sắc tươi sáng, khả năng che giấu cao, khả năng pha màu mạnh, liều lượng thấp và nhiều loại. Chúng bảo vệ sự ổn định của môi trường, tăng cường độ bền cơ học và độ bám dính của màng sơn, ngăn ngừa các vết nứt và bảo vệ khỏi tia cực tím. và khả năng thẩm thấu hơi ẩm, kéo dài tuổi thọ của màng sơn. Sự kết hợp màu sắc của hầu hết mọi hoa văn trong sơn hoa văn nhiều màu sắc không thể tách rời khỏi titan dioxide.
Titanium dioxide là chất màu trắng được sử dụng phổ biến nhất trong lớp phủ. Sản lượng của nó chiếm hơn 70% chất màu vô cơ và mức tiêu thụ của nó chiếm 95,5% tổng lượng tiêu thụ chất màu trắng. Hiện nay, khoảng 60% lượng titan dioxide trên thế giới được sử dụng để sản xuất các loại sơn phủ khác nhau, đặc biệt là titan dioxide rutile, phần lớn được tiêu thụ bởi ngành công nghiệp sơn phủ.
(1) Sơn gốc nước
Lớp phủ gốc nước là lớp phủ trong đó hầu hết các chất dễ bay hơi trong công thức lớp phủ là nước. Với sự nâng cao nhận thức về môi trường của người dân và các quy định về môi trường ngày càng nghiêm ngặt, lớp phủ gốc nước đã trở nên phổ biến. Giống như lớp phủ gốc dung môi, titan dioxide được yêu cầu phải có độ trắng và độ phân tán tốt, khả năng che giấu cao, khả năng tẩy màu và khả năng chống chịu thời tiết cũng như hàm lượng tạp chất thấp.
Hầu hết titan dioxide hiện có trên thị trường là titan dioxide có mục đích chung, có thể được sử dụng trong cả lớp phủ gốc dung môi và lớp phủ gốc nước. Tuy nhiên, xét cho cùng, có những khác biệt cơ bản giữa lớp phủ gốc nước và lớp phủ gốc dung môi. Những titan dioxit đa năng này Hiệu ứng phân tán của bột trắng trong sơn gốc nước không tốt lắm. Vì vậy, để làm cho titan dioxide phân tán tốt trong sơn gốc nước, phương pháp xử lý bề mặt của titan dioxide phải được lựa chọn một cách có mục tiêu.
(2) Sơn tĩnh điện
Các loại lớp phủ khác nhau với mục đích sử dụng khác nhau sẽ có những yêu cầu khác nhau đối với titan dioxide. Ví dụ, sơn bột yêu cầu sử dụng titan dioxide rutile có độ phân tán tốt. Anatase titan dioxide có năng lượng tiêu sắc thấp và hoạt động quang hóa mạnh. Khi sử dụng trong sơn tĩnh điện, màng sơn dễ bị ố vàng. Titan dioxide rutile được sản xuất bằng phương pháp axit sulfuric có ưu điểm là giá thành vừa phải, độ phân tán tốt, khả năng che phủ và độ sắc nét tốt, rất thích hợp cho sơn tĩnh điện trong nhà. Tuy nhiên, titan dioxide cho lớp phủ bột ngoài trời còn đòi hỏi khả năng phân tán và khả năng che phủ. Ngoài khả năng tiêu sắc tốt còn phải có khả năng chống chịu thời tiết tốt. Do đó, titan dioxide dùng cho lớp phủ bột ngoài trời nói chung là titan dioxide rutile được sản xuất bằng phương pháp clorua.
(3) Lớp phủ kiến trúc
Lớp phủ kiến trúc yêu cầu phải chịu được axit, chịu kiềm, chịu nước, chống ẩm và phải có độ bám dính tốt trên bề mặt nền thô hoặc nhẵn. Ngoài các đặc tính quang học và sắc tố tốt nêu trên, titan dioxide dùng trong lớp phủ kiến trúc còn phải có khả năng chống chịu thời tiết cao và kháng bột mạnh, đặc biệt đối với lớp phủ kiến trúc tường ngoại thất.